Nhìn lại ngành công nghiệp điện ảnh việt Nam trong năm 2018-2019 (1)

Đã có một thời kỳ dài trong quá khứ, thị trường phim và ngành điện ảnh Việt Nam được coi như đã chết lâm sàng. Nhưng ngành công nghiệp này đã dần hồi sinh nhờ chính sách xã hội hóa của Nhà nước vào đầu thập niên 2000, mà điểm nhấn của nó là bộ Luật Điện Ảnh được ban hành vào năm 2006. Bộ luật này đã trở thành hòn đá tảng cho kỷ nguyên mới của ngành công nghiệp điện ảnh và trình chiếu phim tại Việt Nam.

Ngày nay, Việt Nam đã trở thành một trong những thị trường phim phát triển nhanh nhất ở châu Á. Với sự tham gia của các tập đoàn Hàn Quốc như CJ hay Lotte, nhiều ý kiến lạc quan tiên đoán rằng Việt Nam sẽ trở thành một “Hàn Quốc kế tiếp” trong ngành công nghiệp điện ảnh toàn cầu.

điện ảnh việt Nam trong năm 2018-2019

Theo một báo cáo thị trường năm 2018, từ năm 2011 đến ngày 30 tháng 9 năm 2018, thị trường phim Việt Nam đã đóng góp được tới 738.098.742 USD cho thị trường toàn cầu và đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 24,9% mỗi năm. Đồng thời, theo thông kê gần nhất, số lượng rạp chiếu đã tăng từ 22 lên 1, và số lượng phòng chiếu là từ 124 lên 950. Đây thực sự là những con số gây ấn tượng mạnh cho các quan sát viên quốc tế. Bản thân thị trường Việt Nam tự thân cũng có nhiều lợi thế cho việc sản xuất và kinh doanh phim, nếu so với các nước trong khu vực.

Nhờ phát triển muộn, hệ thống phát hành phim mà chúng ta đang có rất rõ ràng, chuyên nghiệp hóa và minh bạch hơn hẳn Thái Lan, nơi vẫn tồn tại một hệ thống vài chục năm tuổi, có sự chi phối của các công ty phân phối phim cấp vùng mang nhiều màu sắc mafia. Các nước như Malaysia, Indonesia hay Singapore lại quá đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, làm cho thị trường điện ảnh bị chia nhỏ thành các mảng riêng biệt. Trong khi đó, Việt Nam có lợi thế của một quốc gia có mức độ đồng nhất về văn hóa cao tương tự Hàn Quốc hay Nhật Bản, nơi một bộ phim sản xuất ra có thể được đưa tới đông đảo khán giả trong nước mà không phải lo lắng về rào cản ngôn ngữ nào.

điện ảnh việt Nam trong năm 2018-2019

Nhưng những chỉ số thị trường hay lợi thế kể trên không thể truyền tải được hết bức tranh toàn cảnh của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam. Trong khi chúng có thể gây ấn tượng với người ngoài, thì nhiều người trong cuộc vẫn quan ngại với tình hình hiện tại. Sau bảy năm không ngừng tăng trưởng, tổng doanh thu phòng vé toàn quốc năm 2018 bất ngờ sụt giảm 3,2%.

Phim Việt Nam cũng không nằm ngoài khỏi thất bại này, ngay cả khi đóng góp 26%, thu về tổng cộng 35.301.893 USD trong số 138.363.326 USD. Kết quả này hoàn toàn không thể dự đoán được vào đầu năm 2018, bởi năm 2017 đã là một năm rất thành công của ngành làm phim với bộ phim Em Chưa 18, thu về hơn 140 tỷ. Vậy nhưng, điện ảnh Việt Nam đã phải nếm trải một loạt trái đắng trong năm 2018. Nhiều phim gục ngã, một số khác thì không đáp ứng được kỳ vọng dù chúng đã được xem như những bộ phim đinh.

Nhưng bất ngờ chưa dừng lại ở đó. Khi vẫn còn đang băn khoăn về kết quả năm ngoái, ngành điện ảnh bỗng nhiên lại thấy một loạt các kỷ lục mới, chỉ trong nửa đầu năm 2019. Trong giai đoạn ngắn này, bốn bộ phim Việt Nam đã thu được hơn 100 tỷ doanh thu phòng chiếu, một thành tích mà chỉ có bốn bộ phim khác từ năm 2011 đến 2018 có thể đạt được.

Cua Lại Vợ Bầu của đạo diễn Nhất Trung thậm chí chỉ thiếu khoảng 10 tỷ nữa là cán mốc doanh thu 200 tỷ. Những bộ phim này đã tạo nên một Câu Lạc Bộ Trăm Tỷ khá đông vui, mà bộ phim Mắt Biếc cũng đang đầy hi vọng trở thành thành viên mới nhất ngay trong những ngày cuối cùng của năm 2019.

Tất cả những dao động kịch tính này chứng tỏ rằng sau hơn một thập kỷ phục sinh từ đống tro tàn, cánh chim phượng hoàng của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam vẫn chưa tìm được một quỹ đạo bay thực sự ổn định. Sự bất định đó làm cho bất kỳ dự đoán lạc quan nào về một sự phát triển bền vững cũng trở nên không chắc chắn theo, ít nhất là trong tương lai gần.

Trong cộng đồng các nhà làm phim Việt Nam, rất nhiều người thực sự bi quan về những năm sắp tới, thậm chí là không giấu được nỗi thất vọng. Có quá nhiều vấn đề khác nhau, rất dễ ngợp nếu nhìn vào tất cả cùng một lúc, nhưng hầu hết các vấn đề sống còn của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam đều không phải mới xuất hiện gần đây, chúng đã tồn tại từ nhiều năm rồi.

Bản báo cáo này được viết để xem xét về các vấn đề đó, với mong muốn rằng có thể cố gắng đề xuất một số giải pháp, từ quan điểm của một nhà làm phim. Là một người từng làm kiến trúc, người viết muốn mô tả ngành công nghiệp điện ảnh như một công trình kiến trúc, mà ở đó mỗi thành viên là một thành phần kết cấu cơ bản. Dù thiếu bất kỳ thành phần nào cũng sẽ không thể có một ngôi nhà, không thể có một chốn nương thân chung.

Nguyễn Hữu Tuấn

 

Content Protection by DMCA.com